Cần biết bao nhiêu từ trong ngôn ngữ mục tiêu của mình và trong tiếng Anh?

Khi ai đó đề cập đến việc học ngoại ngữ, tâm trí của chúng ta thường nghĩ tới những bức ảnh hay sử dụng các ứng dụng hay những căn hộ được dán với những từ vựng khắp nơi trên những tờ giấy sticky note, hoặc các từ vựng được dán lên các đồ vật tương ứng để nhìn thấy chúng  hàng ngày.

Đúng là bạn không thể học một ngôn ngữ mà không học các từ tạo ra nó, nhưng tích lũy một lượng từ vựng khổng lồ không phải là mục tiêu chính của bạn. Sự khác biệt giữa 1.000 từ và 5.000 là rất nhỏ nếu con số chênh lệch 4.000 chỉ là các phiên bản khác nhau của 1000 từ hay những từ đó hiếm khi sử dụng hay bạn học mà lại không biết sử dụng chúng như thế nào.

Trước khi bạn có thể hiểu được sự khác biệt giữa 1.000 từ và 5.000 từ, bạn sẽ cần phải suy nghĩ về thế nào là “từ”. Câu trả lời phụ thuộc vào người bạn hỏi.

Một “từ” tiếng anh được hiểu như thế nào?

Một nghiên cứu về việc người bản địa biết bao nhiêu từ vựng sẽ cung cấp cho bạn một vài kết quả.

Một nguồn tin sẽ cho rằng những người bản ngữ có trình độ học vấn cao có vốn từ vựng khoảng 10,000 ngàn từ , trong khi một nguồn khác nói rằng một người nói bình thường mà học xong trung học có thể biết tới 35,000 ngàn từ.

Không phải những nghiên cứu này sai lệch mà đúng hơn là cách đo lường có sự khác nhau.

Một số phép đếm tính cả các từ phái sinh hay tất cả các dạng của từ đó. Ví dụ: từ động từ “to run”, “run”, “ran”, “running”, một số cách đo lường tính cả những từ này như là những từ tách biệt chỉ với một sự khác nhau nhỏ theo cách nghĩ từng người và khác nhau về thì.

Một số cách tính khác chỉ tính các từ gốc head-words hoặc họ từ word-families. Trong từ điển, từ gốc và các dạng khác nhau của từ và từ phái sinh đều được đề cập. Ví dụ từ “house” và  “houses” thì chỉ có một từ gốc headword là “house”. Hoặc “am”, “is”, “are” đều là các dạng khác nhau của từ “to be”.

Cách tiếp cận thứ hai phản ánh đúng nghĩa hơn việc học ngôn ngữ của chúng ta, tức là chúng ta chỉ học một hình thức của từ (từ gốc hoặc họ từ), còn các hình thức khác, chúng ta sẽ học thêm về ngôn ngữ và cấu trúc của nó để hiểu hơn. Việc hiểu biết về ngữ pháp cũng sẽ giúp bạn tạo ra các hình thức khác của từ như số nhiều, thì quá khứ đơn, tương lai đơn hay tân ngữ trực tiếp.

Làm thế nào để bạn biết những gì bạn biết?

Một điều phức tạp khác là những từ chúng ta “biết” thì có thật sự là biết, hiểu?

Đã bao giờ bạn biết một từ nào đó mà khi bạn nghe người khác thì có thể hiểu, nhưng khi bạn muốn lấy từ đó để chính bạn sử dụng cho giao tiếp đó thì bạn lại không thể?

Do vậy, chúng ta cần phân biệt sự khác nhau giữa từ vựng chủ động và thụ động.

Từ vựng chủ động là từ vựng mà bạn có thể nhanh chóng ghi nhớ và chủ động sử dụng khi viết, nói và suy nghĩ.

Từ vựng thụ động là từ vựng mà bạn có thể hiểu một cách thụ động khi bạn nhìn thấy hoặc nghe thấy nó, nhưng bạn không thể sử dụng, hoặc bạn không chắc chắn về cách sử dụng, khi viết, nói và suy nghĩ.

Nói chung, các từ mới trước tiên sẽ dần dần được hấp thụ vào vốn từ vựng thụ động của bạn và sau đó khi bạn bắt gặp chúng nhiều lần và bắt đầu cảm nhận được việc sử dụng chúng.

Sau đó, khi bạn đã có đủ manh mối ngữ cảnh, và một khi bạn đã nghe và đọc đủ các ý nghĩa và cách sử dụng khác nhau của một từ để có ý tưởng chính xác hơn về ý nghĩa của nó và cách sử dụng, nó sẽ chuyển sang từ vựng chủ động.

Người bản ngữ và người nói ngôn ngữ thứ hai nói chung có vốn từ vựng thụ động lớn hơn nhiều lần so với từ vựng chủ động của họ. Đối với người học, nâng cấp vốn từ vựng thụ động của lên từ vựng chủ động là một trong những cách tốt nhất để mở rộng kiến ​​thức về ngôn ngữ chúng ta đang học.

Bạn biết bao nhiêu từ, và bạn cần biết bao nhiêu từ?

Với mục đích bài viết này, chúng ta sẽ áp dụng cách tính từ vựng dựa trên từ gốc headword và họ từ word family có trong số lượng từ vựng chủ động.

Vì vậy, chúng ta sẽ không tính các dạng của từ hay từ phái sinh và không tính những từ thuộc về từ vựng thụ động.

Nếu chúng ta tính số lượng từ dựa theo cách giới hạn từ này thì chúng ta có thể ước lượng được chúng.

Nói chung, chúng ta có thể mô tả mức độ lưu loát trong một ngoại ngữ với cách tính số lượng từ thô:

  • Người mới bắt: 250-500 từ. Chỉ sau một tuần học tập, bạn sẽ có hầu hết các công cụ để bắt đầu có những cuộc trò chuyện cơ bản, hàng ngày. Trong hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới, 500 từ sẽ là quá đủ để giúp bạn vượt qua mọi tình huống du lịch và giới thiệu hàng ngày.
  • Đàm thoại: 1.000-3.000 từ. Với khoảng 1.000 từ trong hầu hết các ngôn ngữ, bạn sẽ có thể hỏi mọi người về họ đang thế nào, nói chuyện về một ngày của bạn và các tình huống giao tiếp hàng ngày như mua sắm và giao thông công cộng.
  • Nâng cao: 4.000-10.000 từ. Khi bạn vượt qua mốc 3.000 từ hoặc hơn trong hầu hết các ngôn ngữ, bạn sẽ có thể làm tốt hơn là những cuộc trò chuyện hàng ngày và có thể sử dụng các từ chuyên ngành để nói về lĩnh vực chuyên môn, tin tức và sự kiện hiện tại, ý kiến một cách trừu tượng hơn, phức tạp hơn . Ở cấp độ này, bạn có thể đạt đến cấp C2  trong khung tham chiếu chung Châu Âu (CEFR) bằng hầu hết các ngôn ngữ.
  • Thông thạo: 10.000 từ. Với khoảng 10.000 từ trong nhiều ngôn ngữ, bạn đã đạt đến trình độ từ vựng gần như bản địa, với các từ cần thiết để nói về gần như bất kỳ chủ đề nào một cách chi tiết. Hơn nữa, bạn có thể nhận biết đủ từ để có thể suy luận các từ mà bạn chưa biết trong ngữ cảnh cụ thể.
  • Bản địa: 10.000-30.000 + từ. Các ngôn ngữ các khau trên thế giới, số từ vựng mà người bản địa biết cũng khác nhau rất nhiều, do vậy về cơ bản rất khó để biết được người bản địa biết bao nhiêu từ vựng. Nhưng dựa theo nội dung thảo luận ở trên, chúng ta có thể ước tính số lượng từ trung bình mà người bản địa biết vào khoảng 10.000 tới 65.000 + từ.

Tất nhiên, bạn sẽ cần lưu ý rằng các ngôn ngữ khác nhau có lượng từ vựng khác nhau và do đó, lượng từ vựng ở các cấp độ kỹ năng khác nhau có thể thay đổi đáng kể.

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here